Trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX, có những nhân vật không nổi bật bởi chiến công trận mạc mà bởi tầm nhìn vượt thời đại.
Cụ Phạm Phú Thứ là một trường hợp tiêu biểu. Ông vừa là đại thần triều Nguyễn, vừa là trí thức sớm nhận ra khoảng cách phát triển giữa Đại Nam và phương Tây đang bước vào thời đại công nghiệp.
Cụ Phạm Phú Thứ, sinh năm 1821 tại Quảng Nam, tên thật Phạm Hào, xuất thân nghèo khó mồ côi mẹ từ sớm nhưng nổi tiếng thông minh chăm chỉ, năm 1842 khi mới 21 tuổi đỗ giải Nguyên, năm 1843 đỗ tiến sĩ được vua Thiệu Trị đổi tên thành Phạm Phú Thứ và bổ nhiệm vào triều, sau đó lần lượt thăng chức Tri phủ Lạng Giang, Án sát Thanh Hóa, Tuần vũ Nghệ An và cuối cùng là Thượng thư Bộ Công.
Ông phục vụ triều đình dưới hai đời vua Thiệu Trị và Tự Đức, từng làm giảng quan, giữ nhiều chức vụ quan trọng, thậm chí bị giáng chức và tù đày vì thẳng thắn can gián triều chính. Những va chạm ấy hình thành nên một tư duy thực tế và độc lập hiếm thấy trong giới sĩ phu đương thời.
Năm 1851, trong chuyến đưa quan nhà Thanh về Quảng Châu, ông lần đầu chứng kiến thương cảng Ma Cao phồn thịnh với tàu máy, hàng hóa dồi dào và tổ chức buôn bán quy củ. Ông ghi rằng cảnh tượng ấy đã khiến mình “tỉnh giấc mộng trần tục”. Từ đó, ông ý thức rõ sự chênh lệch giữa thế giới bên ngoài và đất nước mình.
Bước ngoặt lớn diễn ra năm 1863 khi ông tham gia phái bộ sang Pháp và Tây Ban Nha cùng Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Đản. Sứ bộ rời Huế ngày 21 tháng 6 năm 1863 và trở về ngày 28 tháng 3 năm 1864. Dù nhiệm vụ ngoại giao không đạt kết quả mong muốn, chuyến đi gần chín tháng đã mở ra tầm nhìn mới.
Tận mắt chứng kiến tàu hơi nước, nhà máy, hệ thống giáo dục và kỹ thuật quân sự phương Tây, ông ghi chép lại trong tác phẩm “Tây hành nhật ký”. Đây là một trong những tài liệu sớm nhất cung cấp cho triều đình cái nhìn cụ thể về nền văn minh công nghiệp.
Trong nhật ký, ông quan sát từ nghi lễ giao tiếp, đời sống xã hội cho đến kỹ thuật hiện đại như nhiếp ảnh. Chính trong chuyến đi này, Phan Thanh Giản trở thành người Việt Nam đầu tiên được chụp ảnh chân dung. Những trải nghiệm ấy thôi thúc Phạm Phú Thứ đề xuất cải cách sâu rộng sau khi trở về nước.
Ông dâng nhiều sớ và thư kiến nghị đổi mới về quân sự, kinh tế, giáo dục và kỹ thuật. Từ năm 1865 giữ chức Thượng thư Bộ Hộ, ông thúc đẩy các sáng kiến thực dụng như cải tiến tàu thuyền, đề nghị mở cảng ngoại thương, phổ biến tri thức khoa học.
Năm 1874 ông thuyết phục triều đình chế tạo “xe trâu” dẫn nước hiệu quả hơn phương pháp tát thủ công, phát mẫu cho các tỉnh áp dụng.
Ông còn trình kế hoạch duy tân bảo vệ đất nước trước người láng giềng Trung Hoa theo ba bước: (1) hòa hoãn để tích lũy sức mạnh và học kỹ thuật, (2) thương lượng giành lại quyền lợi, cuối cùng (3) Sẵn sàng đối đầu khi đã đủ nội lực.
Khi làm Tổng đốc Hải Yên, ông mở trường dạy hàng hải, lớp tiếng Pháp và cho in sách khoa học kỹ thuật phương Tây. Ông cũng chủ động phiên âm địa danh nước ngoài bằng chữ Nôm và chữ Hán thay vì phụ thuộc cách gọi Trung Hoa, thể hiện tư duy độc lập trong tiếp nhận tri thức.
Ngoài ra, ông cho khắc in nhiều sách thực dụng như “Bác vật tân biên”, “Khai môi yếu pháp”, “Hàng hải kim châm”, “Vạn quốc công pháp” v.v.. Những tài liệu này góp phần nuôi dưỡng tư tưởng canh tân của nhiều trí thức sau đó.
Phạm Phú Thứ qua đời năm 1882, thọ 61 tuổi. Vua Tự Đức ban dụ thương tiếc, ghi nhận ông là người tận tâm phụng mệnh dù trải nhiều gian khó. Ngày nay, lăng mộ ông tại Điện Bàn đã được tôn tạo và xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, tên ông được đặt cho trường học và đường phố tại nhiều địa phương.
Nhìn lại, Phạm Phú Thứ đại diện cho lớp trí thức đứng giữa hai thế giới: truyền thống Nho học và làn sóng hiện đại hóa toàn cầu. Không phải mọi đề xuất của ông đều thành hiện thực, nhưng ở thời điểm nhiều người còn phủ nhận thực tại, việc dám nhìn thẳng vào khoảng cách phát triển đã là một bước tiến quan trọng. Di sản ông để lại nằm ở tinh thần học hỏi và khát vọng cải biến đất nước bằng tri thức.
Đặng Công Hùng.
Hình: Phạm Phú Thứ (chữ Hán: 范富庶; (1821 – 1882),